home
   Chủ nhật, 21/12/2014 Trang chủ Giới thiệu Tin nội bộ Email nội bộ Danh bạ Liên hệ
  CƠ CẤU TỔ CHỨC

PHÒNG BAN SỞ

DANH BẠ ĐIỆN TỬ

  CÔNG ĐOÀN GIÁO DỤC
  THÔNG TIN CHUNG

TIN TỨC - SỰ KIỆN

CHUYÊN ĐỀ GD&ĐT

VĂN BẢN GD&ĐT

THI VÀ TUYỂN SINH

THÀNH TỰU

GƯƠNG MẶT CƠ SỞ

VĂN HOÁ - VĂN NGHỆ

BẠN CÓ BIẾT - CẦN BIẾT

TUYỂN SINH ĐH-CĐ-TC

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

  THÔNG TIN HĐ NGÀNH

DÀNH CHO GIÁO VIÊN

THI ĐUA - KHEN THƯỞNG

ĐỀ TÀI NCKH - SKKN

THƯ VIỆN TRƯỜNG HỌC

LỊCH CÔNG TÁC

  THƯ VIỆN ẢNH

TRAO ĐỔI Ý KIẾN

PHÒNG BAN SỞ >> TẠP CHÍ GD THỦ ĐÔ >> Trao đổi nghiệp vụ

Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy Văn học sử ở trường THPT

Cập nhật lúc 22h28, ngày 16/11/2011

Trong số này, Tạp chí GDTĐ xin giới thiệu SKKN đạt giải B cấp Thành phố năm học 2010-2011 với đề tài “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy Văn học sử ở trường THPT Ngọc Hồi” của tác giả Nguyễn Thị Anh Nguyệt – Giáo viên môn văn. Đây có thể xem là “một phương pháp dạy học mới” của ngành Giáo dục & Đào tạo giúp học sinh phát triển tư duy, khả năng sáng tạo trong học tập. Dưới đây là phần giới thiệu tóm tắt sáng kiến của tác giả:

 

Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới dạy học môn Ngữ Văn luôn được các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu. Nhiều phương pháp, biện pháp mới liên tục được đưa ra dù có khác nhau nhưng đều thống nhất khẳng định vai trò của người học không phải là những bình chứa thụ động mà là những chủ thể nhận thức tích cực trong quá trình học tập. Như vậy dạy Văn là dạy cách tư duy, dạy cách đi tìm và tự chiếm lĩnh lấy kiến thức. Đó là một định hướng giáo dục quan trọng hiện nay.

Bộ môn Ngữ Văn trong nhà trường THPT là một trong những bộ môn có dung lượng kiến thức và số tiết dạy nhiều. Bộ môn này được cấu tạo bởi nhiều thành phần: Lí luận văn học, Tiếng Việt, Làm văn .. Trong đó có một thành phần nội dung quan trọng được phân bố đều ở cả 3 khối: 10,11,12 chính là phần Văn học sử. Kiến thức Văn học sử có vị trí quan trọng. Nó trang bị cho học sinh toàn bộ những kiến thức khái quát nhất, tiêu biểu nhất về một tác gia, một thời kì, một giai đoạn, một nền văn học dân tộc. Từ đó học sinh có nền tảng kiến thức cơ bản, vững chắc đi sâu tiếp thu những bài học cụ thể.

Tuy nhiên việc dạy Văn học sử cũng gặp nhiều khó khăn. Dung lượng kiến thức mỗi tiết rất dài và có độ khái quát rất lớn. Để giờ dạy có hiệu quả thì cả người dạy và người học đều phải tập trung cao độ, chuẩn bị kĩ nếu không sẽ không đủ thời gian. Trong khi đó, kiến thức phần này lại khó và rộng, chủ yếu là các khái niệm khoa học trừu tượng nên không phải người học nào cũng tạo cho mình một tâm lí thoải mái, hưng phấn khi học, thậm chí còn thấy mệt mỏi, kém hứng thú. Hơn nữa phương pháp chủ yếu trong các giờ học này là thuyết trình để chạy đua với thời gian nhằm đảm bảo dung lượng kiến thức. Vì thế cần tìm một phương pháp phù hợp giảng dạy Văn học sử.

Cơ sở khoa học của phương pháp bản đồ tư duy

*Khái niệm bản đồ tư duy:

Theo Tony Buzan, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra bản đồ tư duy thì: “Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm. Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm. Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, bản đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự. Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển.

*Cơ sở khoa học:

Từ trước tới nay, chúng ta thường ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số theo trật tự tuyến tính. Nghĩa là chúng ta mới chỉ sử dụng ½ bộ não- não trái mà chưa sử dụng kĩ năng nào bên não phải – nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng.

Các nhà khoa học chỉ ra rằng bộ não của con người gồm 2 bán cầu: não phải và não trái. Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, hình dạng, tưởng tượng…. những yếu tố đó sẽ tác động, kích thích não trái. Não trái thích hợp với các từ ngữ, con số, tư duy và phân tích cho ra sản phẩm. Do đó người ta tìm cách kích thích não phải tốt nhất và khi hai bán cầu não có sự tương tác, tác động, kích thích lẫn nhau nó sẽ đem đến cho con người khả năng to lớn.

Dựa trên những đặc điểm đó của não bộ, Tony Buzan đã sáng tạo ra bản đồ tư duy theo nguyên lí hoạt động của bộ não. Bản đồ tư duy không những sử dụng chữ, số, các dòng kẻ mà còn có thể sử dụng cả màu sắc và hình ảnh. Các dòng kẻ, chuỗi, chữ, số, và các danh sách được xử lí bằng chức năng thần kinh của não trái. Đây là bán cầu não được sử dụng cho các công việc bình thường. Do đó khi sử dụng nó, tư duy sáng tạo của con người bị giới hạn. Để thực sự trở nên sáng tạo, chúng cần sử dụng trí tưởng tượng - chức năng hoạt động của bán cầu não phải như sự tri giác màu sắc, hình ảnh, nhịp điệu, không gian.

Với đặc điểm trên, bản đồ tư duy kết hợp hoạt động của hai bán cầu não trái và não phải. Điều này giải thích vì sao chúng ta có thể phát huy toàn bộ mọi khả năng tư duy của mình khi sử dụng bản đồ tư duy. Như vậy bản đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại, một kĩ năng sử dụng bộ não rất mới mẻ. Đó là một kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của bộ não.

*Nguyên lí hoạt động

Nguyên tắc hoạt động của bản đồ tư duy đúng theo nguyên tắc liên tưởng “ý này gọi ý kia” của bộ não. Ở vị trí trung tâm của bản đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay một khái niệm chủ đạo. Ý trung tâm đó được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính. Từ các nhánh chính đó lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn. Cứ thế sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau. Chính sự liên kết này tạo ra một bức tranh tổng thể mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ, rõ ràng.

*Phương thức tạo lập

- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)

+Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình. Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.

+Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh.

+Có thể dùng từ khóa, kí hiệu , câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng sâu sắc về chủ đề.

- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm

+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật.

+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.

+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.

- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ

+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.

+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian.

+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh. Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa.

+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằng đường kẻ. Các đường kẻ càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn.

+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn.

+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu. Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.

- Bước 4: Người viết có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật cũng như giúp lưu chúngvào trí nhớ tốt hơn.

* Tác dụng của bản đồ tư duy:

- Tiết kiệm thời gian, công sức.

- Cung cấp bức tranh tổng thể.

- Tổ chức và phân loại suy nghĩ.

- Ghi nhớ tốt hơn.

- Kích thích tiềm năng sáng tạo.

- Sử dụng rộng rãi , hiệu quả và dễ dàng ở nhiều lĩnh vực

Þ Bản đồ tư duy là một công cụ giúp học tập hiệu quả thông qua việc vận dụng cả não phải và não trái giúp người học tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kĩ hơn, nhớ được nhiều chi tiết hơn. Tuy nhiên bản đồ tư duy không phải là một tác phẩm hội họa nên cần tránh rơi vào việc trang trí cầu kì, chau chuốt thay cho ghi chú (là mục đích chính khi sử dụng bản đồ tư duy).

Bản đồ tư duy đối với hoạt động giảng dạy bài Văn học sử của giáo viên có những ưu điểm sau:

Sử dụng bản đồ tư duy như một công cụ để giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức tổng hợp về bài học :

Với phương pháp bản đồ tư duy trong giảng dạy từng bước giáo viên sẽ giúp học sinh tự mình phát hiện dần dần toàn bộ kiến thức bài học. Bắt đầu bằng những kiến thức tổng quát nhất - trọng tâm bài học- trung tâm bản đồ. Giáo viên giúp học sinh tái hiện những kiến thức lớn xoay quanh trọng tâm bài học, những ý nhỏ trong từng ý lớn cứ như vậy đến khi giờ học kết thúc cũng là lúc kiến thức tổng quát của bài học được trình bày một cách sáng tạo, sinh động trên bản đồ. Không những cung cấp cho học sinh kiến thức tổng thể, bản đồ tư duy còn giúp cho học sinh nhìn nhận đa chiều mọi mặt của vấn đề, từ đó đưa ra các ý tưởng mới, phát hiện mới, tìm ra sự liên kết, ràng buộc các ý tưởng trong bài tức tìm ra mạch lôgic của bài học. Sau khi hoàn thiện, học sinh nhìn vào bản đồ là có thể tái hiện, thuyết trình lại được toàn bộ nội dung kiến thức bài học. Đồng thời học sinh cũng có thể khẳng định được toàn bộ dung lượng kiến thức của bài, xác định ý chính, ý phụ và lên kế hoạch học tập hiệu quả.

Sử dụng bản đồ tư duy như một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm kiếm kiến thức của học sinh:

Với những ưu điểm của mình, bản đồ tư duy trở thành một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm tòi kiến thức của học sinh. Bước quan trọng nhất là giáo viên giúp học sinh phát hiện, tìm kiếm được trung tâm bản đồ - trọng tâm bài học. Sau đó theo nguyên lí bản đồ tư duy là ý nọ gợi ý kia dần dần giúp học sinh khám phá kiến thức bài học. Bằng trí tưởng tượng cùng sự tập hợp kiến thức từ các nguồn, học sinh phải biết cách phân tích tìm ra những từ khóa, hình ảnh chính xác nhất. Khi các nhánh lớn được xây dựng giáo viên cũng nên hướng dẫn học sinh sắp xếp theo thứ tự quan trọng bằng cách đánh số ở đầu mỗi nhánh. Điều đó giúp học sinh dễ dàng ôn tập sau này. Cứ làm việc theo cách đó học sinh sẽ biết cách tự mình vận động, tìm tòi khám phá, lĩnh hội tri thức một cách có hiệu quả.

Sử dụng bản đồ tư duy như một công cụ để củng cố, khái quát bài học của học sinh:

Sau mỗi tiết học bao giờ cũng có phần củng cố, nhắc lại kiến thức trọng tâm. Với cách học truyền thống, học sinh ghi chép và thực hiện kiến thức theo trật tự tuyến tính nên khả năng nhớ kiến thức thường ít hơn < 50%dung lượng bài. Sử dụng bản đồ tư duy giúp các em khắc phục được hạn chế đó. Sau mỗi giờ học, khi cần củng cố kiến thức học sinh chỉ cần nhìn vào bản đồ tư duy có thể tái hiện được 80%-90% kiến thức bài học. Đến khi ôn thi học sinh không phải mất một lượng lớn thời gian để đọc lại kiến thức như cách học truyền thống mà chỉ cần quan sát lại sơ đồ tổng thể vẫn có thể tái hiện nội dung bài học một cách cụ thể, chi tiết. Như thế học sinh vừa nâng cao được kết quả học tập vừa tiết kiệm được thời gian.

Trong giảng dạy Văn học sử không có phương pháp, biện pháp nào là độc tôn, là vạn năng cả. Người dạy cần kết hợp các phương pháp, biện pháp một cách sinh động để gây hứng thú cho HS và nâng cao hiệu quả giờ dạy.

 

Trong số tạp chí tiếp theo, chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp SKKN của tác giả được ứng dụng trong một bài giảng cụ thể “Tiết 1-2Tổng quan văn học Việt Namđể bạn đọc hiểu rõ và áp dụng được vào tiết học của mình cho phù hợp.

(Theo tạp chí Giáo dục Thủ đô số 23 - tháng 11/2011)



In Gửi tới bạn  Thảo luận

Các tin khác:
Học đánh cờ của Bác Hồ và việc xây dựng, rèn luyện tư duy quản lý phát triển nhà trường(14/11/2011)
Triển khai giảng dạy đại trà Bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch- văn minh”: Sâu sắc hơn nét đẹp của thầy và trò Thủ đô(13/11/2011)
Sáng kiến kinh nghiệm hay: Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua giờ sinh hoạt lớp(25/10/2011)
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỊNH HƯỚNG MÔN NGỮ VĂN(18/10/2011)
TÌM HIỂU LỊCH SỬ HÀ NỘI QUA CA DAO (*)(14/10/2011)
Một số vấn đề về kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn ở trường phổ thông (phần 2)(13/09/2011)
Diễn đàn về Bộ tài liệu giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội: BẮT ĐẦU TỪ VĂN HÓA “XIN LỖI” VÀ “CÁM ƠN”(23/08/2011)
Những sáng kiến kinh nghiệm hay: Xây dựng môi trường góc mở ở trường mầm non(04/08/2011)
NGƯỜI THẦY TỰ HỌC TỐT ĐỂ DẠY TỐT(28/06/2011)
Diễn đàn về Bộ tài liệu giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh cho học sinh Hà Nội(19/06/2011)