home
   Chủ nhật, 26/05/2013 Trang chủ Giới thiệu Tin nội bộ Email nội bộ Danh bạ Liên hệ
  CƠ CẤU TỔ CHỨC

PHÒNG BAN SỞ

DANH BẠ ĐIỆN TỬ

  CÔNG ĐOÀN GIÁO DỤC
  THÔNG TIN CHUNG

TIN TỨC - SỰ KIỆN

CHUYÊN ĐỀ GD&ĐT

VĂN BẢN GD&ĐT

THI VÀ TUYỂN SINH

THÀNH TỰU

GƯƠNG MẶT CƠ SỞ

VĂN HOÁ - VĂN NGHỆ

BẠN CÓ BIẾT - CẦN BIẾT

TUYỂN SINH ĐH-CĐ-TC

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

  THÔNG TIN HĐ NGÀNH

DÀNH CHO GIÁO VIÊN

THI ĐUA - KHEN THƯỞNG

ĐỀ TÀI NCKH - SKKN

THƯ VIỆN TRƯỜNG HỌC

LỊCH CÔNG TÁC

  THƯ VIỆN ẢNH

TRAO ĐỔI Ý KIẾN

VĂN HOÁ - VĂN NGHỆ

Hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - hà Nội: Thái úy Lý Thường Kiệt

Cập nhật lúc 00h40, ngày 17/06/2010

Lý Thường Kiệt (1019-1105), người tiêu biểu cho thế hệ đầu tiên được sinh thành ở Thăng Long, thuở nhỏ tên là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, người phường An Xá (sau là Cơ Xá, trên bãi sông Nhị, huyện Quảng Đức), rồi chuyển sang ở gần núi Cung, phường Thái Hoà (nay thuộc đất Đại Yên, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình).

Ngô Tuấn chào đời năm Kỷ Mùi, khi kinh thành Thăng Long đang ở tuổi thứ chín. Tuấn có một em trai tên là Thường Hiến. Mẹ người họ Hàn. Cha là An Ngữ, một võ quan nhỏ thời Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông. An Ngữ bị bệnh mất năm 1031 khi đi tuần vùng biên giới thuộc xứ Thanh. Khi ấy, Ngô Tuấn mới 12 tuổi.

Vợ chồng người cô ruột của Tuấn đem Tuấn về nuôi cho ăn học. Người chồng của bà cô tên là Tạ Đức. Tạ Đức thấy Ngô Tuấn thông minh, có chí nên rất yêu mến, đã đêm ngày truyền dạy võ nghệ binh thư. Tuấn được theo học thầy Lý Công n, người hoàng tộc, ở làng Bái Ân gần ngã ba sông Thiên Phù và Tô Lịch (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy). Theo sách Tây Hồ chíLong thành dật sự, Ngô Tuấn đã theo học thầy Lý Công n từ năm 7 tuổi đến năm 20 tuổi. Sử cũ chép: Mới 13 tuổi, Ngô Tuấn đã ngày tập bắn cung cưỡi ngựa, lập doanh trại, bày trận đồ; đêm đọc binh pháp của Tôn Tử và Ngô Khởi.

Năm 1036, mẹ mất, Ngô Tuấn lúc ấy mới 17 tuổi, đã cùng em trai là Thường Hiến lo tang mẹ theo đủ mọi nghi lễ tập tục bấy giờ. Người đời khen Ngô Tuấn là người chí hiếu. Khi hết tang mẹ, Ngô Tuấn được nhận chức Kỵ mã hiệu uý là một chức võ quan nhỏ trong đội kỵ binh. Năm 22 tuổi (1041), dưới thời vua Lý Thái Tông, Ngô Tuấn được nhận chức Hoàng môn chi hậu, ngạch thị vệ để hầu vua. Năm 1053, Ngô Tuấn được phong chức Đô tri, trông coi tất cả mọi công việc trong cung vua Lý. Vua cho Ngô Tuấn được mang họ vua. Từ đó, Ngô Tuấn mang tên Lý Thường Kiệt. Sử cũ chép: “Vua Lý Thánh Tông thấy Lý Thường Kiệt dung mạo đẹp đẽ, tài năng khác thường, mới khuyên ông tự thiến mình đi để tiện việc gần gũi nhà vua trong cung cấm. Lý Thường Kiệt thuận theo. Hằng ngày, ông hầu cận bên vua, hiến việc tốt, can việc xấu, giúp vua hết mọi cách”. Vì công lao đó, ông được cử giữ chức Kiểm hiệu Thái bảo là một chức rất cao trong triều.

Năm 1061, giặc quấy rối miền biên giới phía tây Thanh - Nghệ, một số thủ lĩnh miền núi nổi dậy chống triều đình. Lý Thường Kiệt được vua Lý Thánh Tông cử vào thanh tra vùng Thanh - Nghệ. Vốn là người siêng năng, cẩn thận, lại có lòng khoan dung đại độ, Lý Thường Kiệt đã làm cho “năm châu, sáu huyện, ba nguồn, hai mươi bốn động” của miền Thanh - Nghệ được yên ổn. Khi đó Lý Thường Kiệt mới 42 tuổi.

Nước Tống ở phía bắc chưa từ bỏ ý đồ xâm lược Đại Việt. Nước Chiêm Thành ở phía Nam lại muốn dựa vào nhà Tống để lấn Đại Việt. Trước nguy cơ đó, đầu năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh cùng 5 vạn quân và vài trăm chiến thuyền chủ động sang đánh Chiêm Thành. Vua phong Lý Thường Kiệt làm Đại tướng quân, hàm Nguyên soái dẫn quân tiên phong. Em Lý Thường Kiệt là Thường Hiến được giao chức Tán kỵ vũ uý cùng đi đánh giặc. Sau chiến công bình Chiêm, Lý Thường Kiệt được thăng chức Phụ quốc Thái phó (đời Lý, chức Thái phó giữ vệ binh), Phụ quốc thượng tướng quân Khai quốc công, được công nhận là “con nuôi vua” (Thiên tử nghĩa nam). Khi ấy, Lý Thường Kiệt 50 tuổi. Ít lâu sau, Lý Thường Kiệt được phong chức Thái uý là chức thứ hai trong triều đình, cùng Thái sư Lý Đạo Thành giúp vua Lý xây dựng Đại Việt thành một nước cường thịnh, văn hiến.

Đầu năm 1072, vua Lý Thánh Tông mất. Càn Đức 6 tuổi lên ngôi. Đó là Lý Nhân Tông. Lý Thường Kiệt làm Phụ quốc Thái uý, cầm quyền bính, thực sự là linh hồn của triều Lý, đỡ đần vị vua còn ở tuổi vị thành niên. Lý Thường Kiệt “dốc một lòng lấy sự yên xã tắc làm vui”.

Ban đầu vì có hiềm khích, Lý Đạo Thành bị giáng chức, điều đi Nghệ An. Sau này nghĩ lại, năm 1074, Lý Thường Kiệt mời Lý Đạo Thành trở lại triều đình, giữ chức Thái phó, Bình chương quân quốc trọng sự, coi việc chính trị để Lý Thường Kiệt chuyên lo việc chống xâm lược và thay Lý Thường Kiệt khi Lý Thường Kiệt cầm quân đi xa Thăng Long. Lý Thường Kiệt xin vua hạ chiếu cho phép những công thần 80 tuổi mỗi khi vào chầu được chống gậy và ngồi ghế chứ không phải quỳ lạy.

Sau chiến thắng chống Tống, vua Lý Thánh Tông mới 12 tuổi. Với vai trò là người đứng đầu triều đình, Lý Thường Kiệt đã đấu tranh đòi nhà Tống phải trả lại những vùng đất biên giới trước đây đã bị nhà Tống chiếm. Kinh tế, văn hoá được khôi phục và phát triển. Lý Thường Kiệt không những là người chứng kiến từng bước phát triển của Thăng Long như mở chợ Tây Nhai (Ngọc Hà), xây cầu Thái Hoà (1035), dựng chùa Diên Hựu (1049), lập Văn Miếu, mở kỳ thi, xây trường Quốc Tử Giám, mà ông còn là người góp phần tích cực đưa nước Đại Việt lên đài chính trị vẻ vang vào nửa sau thế kỷ XI.

Năm 1082, vua Lý Nhân Tông đã đến tuổi trưởng thành, tự mình quyết định được những việc của triều đình. Lý Thường Kiệt được cử đi trông coi châu Ái (Thanh Hoá). Mười chín năm trấn trị xứ Thanh, Lý Thường Kiệt đã chuyên chú mở mang kinh tế văn hoá ở vùng trọng trấn của Đại Việt. Người đương thời nhận xét về ông: “Ông trong thời sáng suốt khoan hoà, ngoài thời nhân từ giản dị, làm việc thì siêng năng Biết dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, nên không để lỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng người già, trẻ mồ côi dùng uy vũ để trừ bọn gian ác, đem minh chính để giải quyết ngục tụng... giúp chính sựcho ba triều dẹp yên loạn ngoài biên ải, công thật lớn lao.

Năm 1101, Lý Thường Kiệt 82 tuổi, ông lại được triệu về Thăng Long nhậm chức. Đất Diễn, Ái sinh loạn lạc: Năm 1104, Lý Giác chiếm Diễn Châu. Lý Thường Kiệt khi ấy đã 85 tuổi lại tình nguyện cầm quân đi dẹp loạn. Lý Giác bị đánh đuổi phải chạy sang Chiêm Thành. Vua Chiêm là Chế Ma Na nhân cơ hội này đưa quân lên phía bắc chiếm lại ba châu trước kia Chế Củ đã dâng vua Lý. Lý Nhân Tông lại cử Lý Thường Kiệt đem quân đánh đuổi Chế Ma Na, thu hồi lại ba châu. Chiêm Thành lại trở lại thần phục Đại Việt như trước.

Giữa năm 1105, Lý Thường Kiệt qua đời, thọ 86 tuổi. Vua Lý Nhân Tông truy tặng Lý Thường Kiệt tước hiệu Nhập nội điện Đô tri kiểm hiệu Thái uý, Bình chương quân quốc trọng sự, Việt quốc công. Nhân dân trấn Thanh và kinh thành Thăng Long lập đền thờ Lý Thường Kiệt, người anh hùng dân tộc.

Ngày nay, tên tuổi Lý Thường Kiệt được nhân dân ghi nhớ trên các đường phố và trường học Lớp lớp người Việt Nam đang hằng ngày bảo vệ và giữ gìn sự nghiệp hiển hách của vị anh hùng dân tộc văn võ song toàn.

(Trích từ cuốn sách Kể chuyện lịch sử Thăng Long Hà Nội Xứ Đoài,Phạm VănHà chủ biên, sắp xuất bản)

Phạm Văn Hà

(Theo “Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 5 – tháng 4.2010”)

 

 

 



In Gửi tới bạn  Thảo luận

Các tin khác:
Quê hương Thánh Gióng(16/06/2010)
Nét đẹp thầy cô.(11/06/2010)
Chùa Hà, di tích văn hóa tín ngưỡng của Thủ đô(05/02/2010)
TRI ÂN(10/12/2009)
“Cảm ơn thầy vì đã khen con đọc tốt...”(18/11/2009)
Hoa sữa Hà Nội...(21/10/2009)
Người thầy(02/10/2009)
Vẫn còn nguyên một mùa hè cuối(25/08/2009)
Rủ nhau chơi khắp Long Thành(18/08/2009)
Dưới bóng cây mùa hạ(10/06/2009)